Kết thúc năm học, một em sinh viên đến tặng tôi món quà thật dễ thương: những nụ trầm hương be bé, xinh xinh trong hai lọ thủy tinh trong suốt, bên ngoài có hai chữ tiếng Anh “Peace” và “Happy”, cùng dòng chữ tiếng Việt “Sống một đời rực rỡ”.

Tôi nhận món quà của em với lòng biết ơn và trân trọng đặt lên ngăn kệ lưu niệm. Thi thoảng lòng tôi lan man suy tư về thông điệp khi tôi đốt một nụ trầm em tặng cho tôi.
Thật ra, “an” (peace) và “lạc” (happiness) không nhất thiết phải đến từ cái rực rỡ của một cuộc đời ta đang sống. Trong một thế giới quá ồn ào và thay đổi quá chóng vánh, niềm an lạc thường đến từ những góc rất nhỏ, không hề rực rỡ, không ai hay biết. Chính ở những nẻo khuất bóng ấy, ta mới tìm thấy niềm vui an tĩnh của riêng mình.
Nhưng đa số chúng ta đều chưa thể đạt đến cảnh giới an lạc ấy, hoặc đi hết một cuộc đời vẫn không thể nắm bắt được hai cảm xúc ấy một cách rốt ráo. Chúng ta vẫn cần hay vẫn phải kết nối với thế giới ồn ào ngoài kia tùy theo hoàn cảnh: có thể để lầm lũi sinh tồn, có thể vì chu toàn bổn phận. Rồi trong quá trình kết nối ấy, cái “rực rỡ” của một cuộc đời nào khác có khi lại khiến niềm an lạc mong manh trong cuộc đời của chúng ta tan biến vào hư vô.
Đã từ lâu tôi tập cho mình thói quen quay vào bên trong để tìm về lại với tôi của một thời hồn nhiên vui vẻ. Ngày đến, ngày qua, tôi góp nhặt, gieo trồng và tưới tẩm những hạt giống an vui, bằng cách gạt bỏ dần những cái tôi mong và tôi muốn, chỉ giữ lại tối thiểu những cái tôi cần để có thể sẻ chia nhiều hơn. Tôi tự tập cho tôi dần bớt lòng tham thế tục. Tôi làm được.
Đã từ lâu tôi cũng tập cho mình cách giữ thản nhiên trước những ầm ào sóng gió. Tôi từng đi qua một quãng có tiếng nói được người khác lắng nghe và tuân thủ. Năm tháng theo mây bay qua, lại đến lượt tôi yên lặng lắng nghe và cũng có những khi nhẫn nhịn tuân thủ. Khi hiểu rõ về chân lý bất biến là cuộc đời vốn luôn chuyển biến, tôi thản nhiên đón nhận đổi thay và chấp nhận những đổi thay bất như ý. Tôi tự tập cho mình dần bớt lòng sân và nuôi dưỡng những cảm xúc bao dung. Tôi làm được.
Trong “tam độc” mà người hướng Phật được khuyên cần phải giảm tránh nếu không dứt bỏ được, tôi tự tin rằng tôi có thể giảm được hai loại độc “tham” và “sân” khi biết quay vào trong và thu mình lại. Tuy nhiên, còn một loại độc cuối cùng là “si” thì tôi vẫn tự thấy tôi chưa giảm được. Với tôi, “si” không đến từ cái ngu dốt sâu dày của việc thiếu học hành chữ nghĩa; nó đến từ một tên giặc mang tên “Ý” vẫn lởn vởn trong thế giới nội tâm của tôi có lúc rất đỗi vô minh.
Đi qua hơn nửa cuộc đời, đọc hết rất nhiều cuốn sách, tôi vẫn “si” vì cứ đắm chìm trong vô vàn nỗi sợ do tên giặc “Ý” liên tục quấy nhiễu. Mỗi sáng sớm, mỗi đêm muộn, tôi tự nhắc mình lời nhắc của Đức Phật để đuổi tên giặc ấy đi: “Ý dẫn đầu các pháp. Ý làm chủ, ý tạo tác.” Có khi tôi cười mình, có khi tôi bực mình, nhưng tên giặc “Ý” vẫn lì lợm ở đó, đầy trêu ngươi. Trong khi đó, thế giới thực vẫn vận hành theo cách của nó, chẳng giống gì với những viễn ảnh có khi rất mực tối tăm mà tên giặc “Ý” vẽ ra để dọa dẫm tôi.
Trong một nỗ lực có phần vô vọng để phá bỏ “si”, tôi neo tâm tôi vào hình tượng “đại trí” của Bồ-tát Văn Thù: một tay cầm sách Bát Nhã, một tay nắm thanh kiếm để chặt đứt vô minh. Tôi có thể thừa tri thức nhưng chắc chắn vẫn thiếu trí tuệ, nên tôi vẫn còn cách xa cảnh giới an lạc khi không thể kiểm soát được tên giặc “Ý” để đạt được một miền tâm vắng lặng thênh thang.
Có một lần tên giặc đó bất thình lình dẫn tôi về một quán ăn ven một bờ sông vắng mà tôi tình cờ ghé qua khoảng 15 năm về trước. Trên cái cột gỗ dựng quán có hai dòng thơ viết bằng nét chữ xiêu vẹo và nét mực lem nhem, “Ngày mai chẳng biết ra sao nữa. Mà có ra sao cũng chẳng sao.” Cái bối cảnh quán ăn ngập tràn bia bọt ấy khiến tôi bật cười khi tiếp nhận cái triết lý thấm đẫm tinh thần bất cần đời đó. Có lẽ nó đến từ chiêm nghiệm về cuộc đời trong cái ngà ngà của một cơn say.
Sau này có lần tôi tình cờ gặp lại hai câu “thơ say” ấy trong một khung cảnh vô cùng khác biệt: một triết lý tỉnh thức dưới dạng thư pháp khuyết danh, thấp thoáng sắc màu Phật giáo. Tôi lục tìm xuất xứ xem có phải là lời Phật dạy hay không thì thuật toán của internet lại đưa tôi đến trang tin của một giáo phận Công giáo, dẫn lại hai câu thơ trên từ một trang bìa sách và diễn giải về “một tinh thần lạc quan và chủ động với mọi cảnh huống”. Đến đây thì tôi hít một hơi dài và thở ra nhẹ nhõm, rồi quyết định ngưng hẳn kiếm tìm.
Tâm tư mông lung của một kẻ say, hay suy nghiệm tỉnh thức của một người tin Phật, hay thái độ tích cực của những người tin Chúa - theo Đại trí Bồ-tát Văn Thù đều là “Một trong Tất cả, và Tất cả là Một”.
Tôi những tưởng tôi thấu hiểu triết lý thâm sâu huyền diệu ấy đã lâu - về Tiểu ngã và Đại ngã - nào ngờ tôi chẳng hiểu được gì cho đến khi chính bản thân tôi trôi nổi trong vô minh. Sự thức tỉnh hiệu quả nhất không đến từ kinh sách, giáo lý hay hình tượng; nó đến từ thằng giặc “Ý” thình lình dẫn tôi về với một vần thơ say, trong một không gian quánh đặc tính “phàm”. Vậy nhưng chính ở nẻo về thế tục đó, tôi thấy mình đạt đến cảnh giới an lạc của tâm tư.
Nếu bạn cũng có khi khổ vì thằng giặc “Ý” như tôi, bạn hãy thử theo tôi về với một chân lý giản đơn qua nẻo say-nẻo tỉnh-nẻo lạc quan của hai câu thơ trên. Rồi bạn thở và cười, bạn sẽ thấy cuộc đời như chợt mới tinh khôi.
-----
Tác giả: Đỗ Thị Diệu Ngọc - Ảnh: anlac.art

Vạn Phật Đường Hiếu An